Một cái nhìn mới về toàn cảnh thanh toán tại Châu Á

Thanh toán kỹ thuật số hiện đang phát triển nhanh chóng ở Châu Á, được thúc đẩy bởi việc gia tăng quyền sở hữu điện thoại thông minh và khả năng truy cập internet được cải thiện.

Theo một báo cáo của East & Partners, hàng loạt các giải phát như ví điện tử, ứng dụng thanh toán di động và thẻ tích điểm đang được sử dụng để chuyển tiền, có thế là chuyển tiền hoặc thanh toán hàng hóa và dịch vụ, một cách đơn giản và thuận tiện hơn.

Ấn Độ, Trung Quốc và Philipin là ba nước nhận tiền gửi lớn nhất trên toàn cầu, Châu Á cung cấp một cơ hội lớn cho các nhà cung cấp giải pháp thanh toán. Số lượng các giao dịch phi tiền mặt trong khu vực dự kiến sẽ đạt tới 276.8 tỉ giao dịch vào năm 2020, theo Báo cáo thanh toán Thế giới gần dây. Đây là mức tăng gàn gấp 3 kể từ năm 2015, tăng trưởng chưa từng thấy chỉ trong vòng 5 năm.

Toàn cảnh nền thanh toán tại Trung Quốc

Trung Quốc đang dẫn đầu cuộc cách mạng thanh toán di động. Thị trường thanh toán di động của đất nước này đã được dịnh giá ở mức US$5.5 nghìn tỉ đô la Mỹ vào năm 2016, gấp gần 5 lần Mỹ, Tiết lộ hành vi thanh toán của khách hàng Trung Quốc và theo dõi sự tiến triển của ngành sẽ cung cấp một hướng dẫn rõ ràng về thanh toán trên toàn cầu.

Câu chuyện về Trung Quốc đang chuyển đổi sang một xã hội không có tiền mặt là nói về Alipay vs WeChat Pay. Nói chung, hai công ty công nghệ khổng lồ Trung Quốc này nắm giữ 90% thị trường thanh toán di động với tỉ lệ 58/42. AliPay ban đầu được tạo ra như một công cụ thanh toán cho nền tảng thương mại điện tử Alibaba, trong khi WeChat Pay được mở rộng từ ứng dụng mạng xã hội và tin nhắn tức tời của mình. Không giống như nhiều ứng dụng được phát triển ở phương Tây, những “siêu ứng dụng” của Trung Quốc này có tính năng đa chức năng. Ngoài việc thực hiện thanh toán, người dùng cũng có thể gọi taxi, mua vé xem phim, đặt cọc hoặc đầu tư vào quỹ quản lý tài sản thông qua cùng một nền tảng.

Trong những năm gần đây, Alipay và WeChat Pay đã tăng nhanh sự hiện diện của họ trên thị trường quốc tế. Ví dụ: Tencent đã ra mắt dịch vụ thanh toán WeChat ở Châu Âu vào tháng 7 thông qua hợp tác với công ty thanh toán Đức Wirecard. Alipay, mặt khác, đã bước vào thị trường Châu Âu sớm hơn vào năm 2015 và đã ghi dấu phát triển ở thị trường Bắc Mỹ, Đông Á, ĐNA và Châu Phi. Hiện nay, hai công ty này chia sẻ một chiến lược tương tự cho việc mở rộng ở nước ngoài – phục vụ cho khách du lịch Trung Quốc ở nước ngoài, trái ngược với việc nhắm đến khách hàng trong nước tại Châu Âu hoặc Mỹ.

Một phần do sự thâm nhập của thẻ tín dụng thấp và thiếu các cấu trúc ngân hàng kế thừa, Trung Quốc đang nhảy cóc qua thời kỳ sử dụng thẻ tín dụng để tiến vào thanh toán di động. Nhận thấy xu hướng tất yếu này, UnionPay, nhà phát hành thẻ lớn nhất Trung Quốc đã đưa ra thanh toán sử dụng mã QR trong tháng 5. Tổ chức cũng đã hợp tác với Tập đoàn Swatch để tạo ra một đồng hồ thanh toán không tiếp xúc.

Tiềm năng tăng trưởng to lớn tại thị trường mới nổi Châu Á

Ấn Độ đang trở thành một chiến trường quan trọng cho các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán kỹ thuật số, cho rằng đất nước này cũng có dân số khổng lồ, trẻ trung và sử dụng công nghệ thông minh với những chiếc điện thoại thông minh giá cả phải chăng và mạng không dây với tốc độ cao đã được cải thiện. Động thái của Google nhằm khởi động Tez, một ứng dụng thanh toán di động, tại Ấn Độ là tháng trước được xem như là tận dụng cơ hội này. Trong khi thanh toán kỹ thuật số đạt động lực khi Thủ tướng Narendra Modi đột ngột loại bỏ 500-rupee và 1.000 rupee tiền giấy khỏi lưu thông tháng 11 năm ngoái, nhưng vẫn có một con đường cho Ấn Độ. Thị trường mới nổi ở Châu Á, đặc biệt là khu vực ĐNA với 73% dân số không sử dụng ngân hàng tương đương với 438 triệu người không sử dụng tài khoản ngân hàng, mang lại tiềm năng rất lớn cho việc áp dụng các giải pháp di động như một giải pháp thay thế cho các phương thức thanh toán truyền thống.

Tuy nhiên, khu vực này bị chia cắt với sự không đồng nhất trong phát triển kinh tế và cung cấp cơ sở hạ tần, kết quả là mức độ sẵn sang chấp nhận thanh toán kỹ thuật số là khác nhau. Hiểu được các sắc thái văn hóa và động lực của thị trường địa phương là thiết yếu đối với các nhà cung cấp dịch vụ. Điều này được minh họa rất tốt bởi WeChat Pay đã trở thành đối thủ lớn nhất của Alipay mặc dù là người đến sau. Việc triển khai thành công Red Packet trên nền tảng của mình, dựa trên truyền thống tặng phong bao lì xì trong Tết Nguyên đán, đám cưới và các dịp đặc biệt, đã giúp cho WeChat Pay tăng đáng kể số lượng người sử dụng dịch vụ của mình trong một khoảng thời gian ngắn.

Tron khi đó, thanh toán số vẫn chưa thực sự cất cánh ở các thị trường phát triển ở Châu Á. Ví dụ ở Singapore, có rất nhiều lựa chọn thanh toán số khả dụng và sự thiếu khả năng tương tác giữa các hệ thống này làm cho người sử dụng  từ chối việc chấp nhận thanh toán điện tử mà sử dụng tiền mặt và thẻ tín dụng để thay thế.

Trong nỗ lực đẩy mạnh các dịch vụ thanh toán tích hợp hơn trong thị trường phân tán này, PayNow, một dịch vụ chuyển tiền P2P chỉ sử dụng số điện thoại di động vừa mới được giới thiệu. Một lực lượng đặc nhiệm cũng được tạo ra để phát triển một mã QR sử dụng chung tại Singapore. Với 70% các giao dịch vẫn được tiến hành bằng tiền mặt, Nhật Bản cũng đối mặt với một thách thức tương tự. Để đưa quốc gia không phụ thuộc quá nhiều vào tiền mặt, các ngân hàng Nhật Bản dự định tung ra một loại tiền kỹ thuật số mới gọi là J Coin vào năm 2020.

Đối với các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán số, chiếm thị phần có nghĩa là có nhiều hơn doanh thu giao dịch. Giải thưởng lớn là các dữ liệu thanh toán có giá trị được thu thập và cho phép phân tích trong thời gian thực các mô hình chi tiêu của khách hàng và ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi mua hàng hóa và dịch vụ.

So sánh trên toàn cầu

Trong khi các ứng dụng tin nhắn và thanh toán chiếm ưu thế người dùng ở Châu Á, và đang trở thành phương thức thanh toán ưa thích của các thương nhân, nghiên cứu của East & Partners cho thấy các khu vực khác chưa chấp nhận rộng rãi mặc dù tỉ lệ sử dụng điện thoại di động và thiết bị thông minh rất cao.

Chẳng hạn như ở Úc, theo một khảo sát khách hàng di động 2016 của Deloitte, có đến 84% người dân sử dụng điện thoại thông minh, East thấy chỉ có 19.5% các thương nhân tại Úc có website thân thiện với di động, trong khi ít hơn 1/3 các thương nhân này chấp nhận thanh toán di động thông qua website của mình. Tuy nhiên, các thương nhân Úc đều nhận thấy đây là một lĩnh vực phát triển quan trọng, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp muốn ở bất cứ nơi nào mà họ có khách hàng.

Trong khi đó, trong báo cáo thanh toán của các thương gia ở Anh, East nhận thấy các thương gia ưu tiên đầu tư vào công nghệ di động và không tiếp xúc nhanh hơn nền tảng thanh toán internet. Hơn một nửa, và gần ¼ các thương nhân tại Anh đề cử các khoản thanh toán bằng thẻ không tiếp xúc và chấp nhận thanh toán di động như một lĩnh vực ưu tiên của đầu tư sản phẩm thanh toán trong tương lai.

Không gian thanh toán của các doanh nghiệp đã sẵn sàng

Đến nay, việc cải thiện trải nghiệm người dùng đã lớn hơn trên phương diện người tiêu dùng và nhà bán lẻ so với phía doanh nghiệp. Về mặt thanh toán, một nghiên cứu gần đây cho thấy 73% đầu tư fintech được dành cho người tiêu dùng, 24% để nâng cao hiệu quả ngân hàng và chỉ có 3% là dành cho khách hàng doanh nghiệp. Sự phức tạp vốn có của giao dịch trong thanh toán giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) liên quan đến nhiều ngân hàng và thường xuyên xuyên biên giới, làm khó khăn hơn cho các nhà cung cấp giải pháp sáng tạo, các giải pháp tập trung vào các khách hàng phù hợp với nhiều yêu cầu của khách hàng.

Hiện tại, thanh toán B2B trên khắp Châu Á vẫn chủ yếu hướng dẫn sử dụng với tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt rất cao. Điều này tạo ra tỉ lệ lỗi cao trong hơn trong việc nhập dữ liệu thủ công, rủi ro và gian lận cũng như số lượng nhân viên nhiều hơn trong việc kiểm tra các đơn hàng (PO), thiết lập các nhà cung cấp, và đồng bộ hóa thông tin với các nền tảng kế hoạch tài nguyên doanh nghiệp (ERP) lẫn nhau. Trên các tài khoản phải thu, các doanh nghiệp thường phải đối mặt với các thách thức bao gồm bị trễ thanh toán và chu kỳ thanh toán dài.

Khi người quản lý tài sản và nhân viện kiểm soát tài chính trải nghiệm khả năng và các ý tưởng thanh toán mới trong cuộc sống cá nhân của mình, kỳ vọng của họ về các khoản thanh toán doanh nghiệp đang trải qua một sự thay đổi về mô hình. Sự hiện diện của  một khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Châu Á, cùng với sự nhấn mạng hơn nữa trong việc quản lý dòng tiền và thương mại xuyên biên giới nở rộ, đặc biệt là trong khu vực sẽ đóng vai trò là chất xúc tác cho sự phát triển của giải pháp thanh toán B2B.

Một làn sóng fintech Châu Á đang nhận ra cơ hội ngày càng tăng trong lĩnh vực thoanh toán doanh nghiệp số. Ví dụ MC Payment đã phát triển một sản phẩm hỗ trợ thanh toán B2B với dữ liệu mức 3, trong khi Eko-Pay đã hợp tác với MasterCard để cung cấp một giải pháp thanh toán tự động cho phép các doanh nghiệp hợp lý hóa quy trình công việc và nâng cao năng lực. Để giữ chân các khách hàng doanh nghiệp và vị thế của họ trong quá trình phát triển hơn nữa, các ngân hàng sẽ cần phải đầu tư và các công nghệ thanh toán mới,  nâng cao trải nghiệm người dùng của khách hàng doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp đang tìm kiếm và đánh giá cao các sản phẩm thanh toán kỹ thuật số nào? Khả năng thanh toán thời gian thực? Hóa đơn điện tử? Phê duyệt thanh toán di động?

Theo Paymentcardandmobile.

 

 

Tin khác